Chủ Nhật, 19 tháng 8, 2012

Đô thị cổ Liên Lâu: Nơi phát tích Đạo Phật Việt Nam


Đô thị cổ Liên Lâu: Nơi phát tích Đạo Phật Việt Nam

- Sĩ Nhiếp xây thành lập trị sở quận Giao Chỉ vào năm 187. Đô thị Liên Lâu hình thành. Những đoàn buôn Ấn Độ đầu tiên tới mang theo những tăng lữ Phật giáo để rồi con đường buôn trở thành con đường truyền giáo.

Ngày nay, Liên Lâu còn lại chỉ là di tích Chùa Dâu, Bắc Ninh.
Đạo Phật vào Việt Nam sớm hơn vào Trung Quốc, chính vì vậy, Liên Lâu là trung tâm Phật giáo đầu tiên của nước ta. Thư tịch cho thấy, người Ấn Độ đầu tiên tới truyền giáo ở Liên Lâu là Khâu Đà La.

Đạo Phật do Khâu Đà La mang tới đã được cư dân Liên Lâu tiếp thu. Người theo đạo phát triển, chùa chiền được xây dựng nhanh chóng, trong đó có 4 chùa nổi tiếng là chùa Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Điện (mây, mưa, sấm, chớp) mà chùa Pháp Vân là trung tâm chính.
Liên Lâu trở thành một trung tâm Phật giáo cổ nhất và lớn nhất, thu hút rất nhiều Phật tử đến đây học đạo, trong đó có rất nhiều người Trung Quốc. Chùa Dâu, tức là chùa Pháp Vân chính là tu viện của Khâu Đà La hồi cuối thế kỷ II. Đến nay chùa vẫn còn, tuy có thay đổi chút ít về kiến trúc, song tục thờ hòn đá sinh thực khí - tục thờ Phật bà Man Nương vẫn còn được giữ nguyên.

Phải nói rằng từ thế kỷ II - IX, X, trên đất Giao Chỉ Liên Lâu vẫn là một đô thị lớn nhất, không đâu sánh được. Tại đây dân cư đông đúc và có nhiều thành phần tham dự. Ngoài người Việt bản địa, sống tập trung ở ngay vùng trị sở và các vùng phụ cận, người Trung Quốc cũng chiếm một số lượng không nhỏ, gồm quan lại và gia quyến. Có binh sĩ, có thợ thủ công.
Người Ấn Độ có mặt tại Liên Lâu với tư cách là khách buôn, nhà sư và cả những người theo hầu, khiến cho tính chất quốc tế của đô thị càng đậm và tất nhiên mức độ sầm uất cũng vì thế mà phát triển nhiều.

Là một trung tâm hành chính, Liên Lâu là thủ phủ của một quận. Bộ máy cai trị rất lớn. Có quan đứng đầu là thái thú được phong tước hầu. Trong hoàn cảnh tình hình Trung Quốc loạn lạc, kinh đô thì ở xa, Liên Lâu càng có vị trí đặc biệt không kém kinh đô của một nước.
Sử cũ đã chép về Sĩ Nhiếp: "Vương độ lượng khoan hậu, khiêm tốn kính trọng kẻ sĩ, người trong nước yêu mến đều gọi là Vương. Danh sĩ nhà Hán tránh nạn sang nương tựa có hàng trăm người".

Là một trung tâm quân sự, Liên Lâu được dựng đắp một tòa thành vững chắc có tường cao hào sâu, có quân đội thường trực. Binh lính ở đây có cả người Trung Quốc và người Việt. Những người lính Việt đã sáng tạo ra loại vũ khí là mũi chông củ ấu bằng đất nung. Cách làm đơn giản này đã cung cấp hàng vạn mũi chông phòng thủ rắc kín quanh thành bảo vệ thành một cách hiệu quả.

Là một trung tâm văn hóa, Liên Lâu là nơi đầu tiên truyền bá chữ Hán và đạo Nho ở nước ta. Lời bàn của Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư cũng cho rằng: Nước ta thông thi thư, tập lễ nhạc bắt đầu từ Sĩ Vương.
Liên Lâu cũng là nơi đầu tiên hình thành Đạo Phật, ngôi chùa đầu tiên thờ Phật ở nước ta là xây trên đất Liên Lâu. Cả đạo Nho và đạo Phật cùng lúc chọn Liên Lâu làm nơi để tồn tại, để bắt rễ vào nhân dân. Đây là một giai đoạn hình thành và phát triển mới nền văn hóa nước ta.

Là một trung tâm kinh tế, Liên Lâu đã có một bước tiến xa so với Cổ Loa. Liên Lâu đã là một trung tâm buôn bán lớn, gồm có khách buôn người Ấn Độ, người Trung Hoa. Đó là chưa kể người dân bản địa thường mang hàng hóa tới đây mua bán và trao đổi.
Những đồng tiền bằng đồng thời Đông Hán như tiền "ngũ thù", sớm hơn nữa là những đồng tiền "Hóa tuyền", "Đại tuyền ngũ thập"... thời Vương Mãng, thậm chí cả những đồng tiền thời Tây Hán, thời Tần tìm thấy rất nhiều trong các ngôi mộ táng.
Việc dùng tiền trao đổi đã phát triển hơn xưa. Hoang hóa nhiều hơn và đa dạng hơn, khách buôn nhiều hơn, việc trao đổi và mua bán sầm uất hơn... điều đó cho thấy phần "thị" của Liên Lâu đã phong phú, khiến cho Liên Lâu xứng đáng được coi là đô thị cổ đúng với tính chất của nó.
Trịnh Dương


Dấu tích đô thị cổ Liên Lâu


Dấu tích đô thị cổ Liên Lâu (Luy Lâu)


- So với Cổ Loa, Liên Lâu là một bước tiến xa. Những kết quả khảo cổ cho thấy, đây không chỉ là trung tâm hành chính, mà còn là trung tâm quân sự, văn hóa, kinh tế của Giao Chỉ.
Cổng đền Sĩ Nhiếp
Vào thời nước ta thuộc Tây Hán (111 TCN - 25 SCN), trị sở của thái thú quận Giao Chỉ đóng tại Long Biên, cho tới đời Hán Quang Vũ đầu thời Đông Hán, thái thú Tô Định vẫn đóng trị sở ở nơi cũ. Nhiều tài liệu ghi chép về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã nói tới con đường hành quân của quân khởi nghĩa là từ đất Mê Linh kéo qua Cổ Loa để tới đánh Tô Định ở Liên Lâu. Tô Định thất bại từ Liên Lâu trốn chạy về Nam Hải vào năm 40 SCN.

Như vậy, từ thế kỷ II TCN đến những năm đầu của thế kỷ I SCN, Liên Lâu đã từng là trung tâm hành chính cấp quận của bộ máy thống trị nhà Hán. Đất trị sở tất phải đông vui, phồn thịnh hơn tất cả mọi nơi khác trong quận. Các thư tịch cổ cho ta biết rằng, Liên Lâu đã là nơi "đất lành chim đậu" từ rất lâu từ khi đế quốc Tây Hán bắt đầu xâm chiếm lãnh thổ nước ta.

Cuối thế kỷ II - đầu thế kỷ III, chính quyền Đông Hán suy vong. Cục diện tam quốc nảy sinh. Ở Việt Nam, quyền hành nằm cả trong tay cha con Sĩ Nhiếp. Sĩ Nhiếp như đế vương đóng đô ở Liên Lâu (thuộc đất huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) một trạm gần cuối "con đường xâm lược". Con đường xâm lược càng đóng vai trò huyết mạch và những trạm Uông Bí, Đông Triều... càng trở nên những khu cư trú lớn.

Sĩ Nhiếp đóng trị sở ở Liên Lâu từ năm 187 cho tới khi chết vào năm 226. Trong suốt thời gian 40 năm đó, trong khi ở Trung Quốc tình hình rất loạn ly thì Giao Chỉ là vùng đất yên vui thịnh vượng. Đô thị Liên Lâu ngày một mở mang. Không ít người dân Trung Quốc trốn chạy chế độ hà khắc sang lánh nạn ở đất Giao Chỉ và tất nhiên có nhiều người lần về lập nghiệp tại thủ phủ Liên Lâu. Vào thời kỳ đó, những người buôn Ấn Độ đã theo đường biển sang Giao Chỉ và cũng buôn bán ở Liên Lâu. Đi theo người buôn là những tăng lữ Ấn tới Liên Lâu đã trở thành những người truyền bá Đạo Phật đầu tiên trên đất Giao Chỉ. Trung tâm hành chính Liên Lâu lại mang tính chất một trung tâm tôn giáo.

Về địa danh Liên Lâu người ta dễ dàng nhận biết vì ở đây còn có một tòa thành cổ, trong thành có đền thờ Sĩ Nhiếp với những tấm bia đá chữ khắc rõ ràng tòa thành của Sĩ Nhiếp. Hơn thế nữa, quanh vùng còn nhiều đình chùa và chuyện kể cho hay nơi đây là đô thị trung tâm của những thế kỷ II, III. Xa hơn một chút là di tích lăng Sĩ Nhiếp cùng đền thờ tại Tam Á chứng minh thêm cho vị trí thủ phủ Sĩ Vương. Nhưng sử còn chép về một tòa thành Long Biên tồn tại vào những thế kỷ Bắc thuộc cũng ở vùng này. Thực ra Long Biên mà sử chép cũng chính là thành Liên Lâu.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ Sĩ Nhiếp chép: "Sĩ Nhiếp đổi làm thái thú Giao Chỉ, phong là Long độ đình hầu, đóng đô ở Liên Lâu (tức là Long Biên)".

Năm 210, khi Ngô Tôn Quyền cử Bộ Chất làm thứ sử Giao Châu thì Sĩ Nhiếp đem anh em ra đón và theo mệnh lệnh, Ngô Tôn Quyền phong cho làm Tả tướng quân. Sau vì có công dụ bọn thổ hào ở Ích Châu quy phục với Ngô mà được Ngô Vương thăng làm Vệ tướng quân, tước Long Biên hầu. Điều đó càng làm rõ Liên Lâu chính là thành Long Biên.

Thành cổ Liên Lâu là một tòa thành hình chữ nhật. Chiều dài khoảng 600m, chiều rộng 300m. Thành đắp bằng đất, bốn góc có bốn hỏa hồi đắp rộng nhô ra phía ngoài. Xung quanh đều có ngoại hào. Đặc biệt, phía trước là con sông Dâu là ngoại hào thiên nhiên tốt nhất bền vững nhất. Đáng tiếc là thành đã bị phá nghiêm trọng chỉ còn duy nhất ngôi đền thờ Sĩ Nhiếp được xây dựng vào thời Lê ở chính giữa thành là còn nguyên vị trí.

Các nhà khảo cổ học đã tiến hành khai quật ở nơi đây và cho chúng ta kết quả khá quan trọng, nhiều bếp lò kê ba hòn gạch, cùng nồi gốm, dưới có than tro. Trong đống than tro tìm thấy nhiều chiếc chông củ ấu. Di tích bếp lửa và chiếc chông củ ấu và rất nhiều đồ đồng, đồ sắt chứng tỏ nơi đây đã phát triển mạnh và là nơi tụ hội đông đúc các cư dân làm nghề thủ công, trồng lúa... Niên đại của các bếp nung có niên đại thế kỷ II, III chứng minh rằng, tòa thành của Sĩ Nhiếp mới ở độ cao này.

Trịnh Dương

Mỹ nhân lừng lẫy lịch sử Trung Hoa là người Việt?


Mỹ nhân lừng lẫy lịch sử Trung Hoa là người Việt?




- Nhiều người biết Vương Chiêu Quân là một trong “tứ đại mỹ nhân” của Trung Hoa cổ đại. Nhưng tại một làng quê nhỏ vùng đồng bằng Bắc bộ Việt Nam cũng có một Vương Chiêu Quân mà đền thờ còn hiển hiện và thần tích còn ghi rõ.

Mỹ nhân lừng lẫy lịch sử Trung Hoa…
Theo các tài liệu lịch sử chính thống thì Chiêu Quân tên là Vương Tường, cũng được gọi là Vương Chiêu Quân, là con gái một gia đình thường dân ở Nam Quận, nay là huyện Hưng Sơn, tỉnh Hồ Bắc, được tuyển vào nội cung vào khoảng sau năm 40 TCN, đời vua Hán Nguyên Đế.
Năm 33 TCN, thiền vu Hung Nô là Hô Hàn Tà đến kinh đô Trường An để tỏ lòng thần phục nhà Hán. Ông đã được vua Hán Nguyên Đế ban cho 5 cung nữ, một trong số này là Vương Chiêu Quân.
Theo Hậu Hán Thư thì trong suốt thời gian ở hậu cung, Chiêu Quân chưa hề được gặp mặt nhà vua. Đến khi được triệu kiến để chuẩn bị sang Hung Nô, sắc đẹp của nàng đã khiến Hán Nguyên Đế sững sờ muốn đổi ý, nhưng không được.
Tranh vẽ Vương Chiêu Quân
Chiêu Quân trở thành vợ Hô Hàn Tà và sinh được 2 trai, 1 gái.
Năm 31 TCN, Hô Hàn Tà chết, Chiêu Quân muốn trở về Trung Quốc, nhưng Hán Thành Đế đã buộc nàng phải theo tập quán nối dây của người Hung Nô và Chiêu Quân trở thành vợ của thiền vu tiếp theo là Phục Chu Luy Nhược Đề, con trai lớn của Hô Hàn Tà với người vợ trước.
Trong cuộc hôn nhân mới này nàng có 2 người con gái. Sau khi chết, Chiêu Quân được táng tại "Thanh Trủng", Nội Mông.
Xung quanh nhân vật Vương Chiêu Quân, trong dân gian còn tồn tại rất nhiều giai thoại và truyền thuyết. Câu chuyện về Chiêu Quân được gọi Chiêu Quân Cống Hồ đã trở thành một điển tích trong văn học Trung Hoa cổ đại.
… quê ở Thái Bình?
Tôi tình cờ đến làng Diêm Tỉnh, xã Thụy Dũng, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình - một làng quê nhỏ ở đồng bằng Bắc Bộ vào đúng ngày hội của làng, 13 tháng 3 Âm lịch.
Tại đây, tôi đã rất bất ngờ khi được cụ Hoàng Ngọc Phin, năm nay 84 tuổi mời đến dự hội với lời giới thiệu: “Hôm nay là ngày sinh của Bà Chúa Vương Chiêu Quân người làng này. Vì vậy, ban tế toàn là nữ và sẽ có màn tế Nữ Quan”.
Nghĩ đến một sự trùng tên nên tôi hỏi lại: “Có phải Chiêu Quân cống Hồ không? Bà ấy ở Trung Quốc cơ mà” thì cụ Phin khẳng định: “Đúng là Chiêu Quân cống Hồ đấy, nhưng là người làng này”.
Thấy tôi một mực không tin, cụ lấy từ trong tủ ra một cuốn sách mỏng sách bằng giấy bản đã ố vàng, mép nhiều trang đã sờn, dày đặc chữ Nho và bảo: “Bác không tin thì xem đây. Đây là bản Thần tích ghi chép về Bà Chúa mà làng tôi đã lưu giữ mấy trăm năm nay rồi. Ngoài ra còn bản sắc phong từ thời Khải Định nữa”.
Cụ Phin và cuốn Thần tích
Chỉ tay vào dòng chữ trên trang ngoài cùng, cụ rành giọt giải nghĩa luôn: “Ở đây viết rõ là cuốn Thần tích này được chép lại từ năm đầu triều Lê Chiêu Thống (1786). Đến năm Khải Định thứ tám triều Nguyễn (1924) thì sửa lại”.
Theo Thần tích thì vào thời thuộc Hán, ở “phủ Hạ bát đụn tang” (tám cái gò cao nổi lên ở vùng Hạ - người dân Diêm Tỉnh coi quê mình nằm trong vùng đó) có ông Vương Thức người nước Nam, thời trẻ học rộng biết nhiều được cử làm Kim Thành thái thú, sau về Lâm Ấp, có vợ là Phạm Thị Dụ.
Đêm 12 tháng 3, bà nằm mộng thấy con rắn cuốn, sau sinh quý nữ. Lúc sinh ra, hương thơm bay ngào ngạt, có 3 con rồng xuất hiện trên bầu trời. Cũng ngày đó, ở kinh đô có 3 tiếng động lớn kinh động sơn hà, hàng đàn muông thú kéo về. Vương Thức đặt tên con là Vương Tường. Lớn lên đóng cửa học hành, môn gì cũng giỏi. Năm 14 tuổi được coi là bậc “quốc sắc thiên hương”, không ai so được.
Đời Hán đế, ngày 8 tháng 1, Hoàng đế nằm mơ thấy một ông tiên cho biết ở phía Nam xuất hiện một người con gái kỳ tài, có một không hai (hộ quốc tý dân, trung trinh vô nhị) tại nhà quan Thái thú. Sáng hôm sau vua hội bá quan kể lại giấc mơ. Triều đình thảo luận rồi cử Diên Thọ đến tận nơi xem xét, họa lại chân dung đem về báo cáo.
Diên Thọ đến gặp, Vương Tường không tiếp mà cứ ngồi đọc sách. Sau đó tự mình vẽ chân dung rồi gửi cho Diên Thọ mang về. Nhận được chân dung, Hán đế triệu Vương Thức về gặp và hậu thưởng cho các bậc cao niên. Sau đó lệnh đưa Vương Tường vào cung, đặt tên là Chiêu Quân.
Diên Thọ bực tức vì nàng đã lạnh nhạt với mình nên đưa bức tranh vẽ Chiêu Quân ngầm giới thiệu với vua Hồ. Vua Hồ đòi Hán đế phải gả cho người trong tranh. Vì bang giao hai nước, Hán đế phải đồng ý.
Sang Hồ, Chiêu Quân có một cái áo bảo vệ nên Hồ vương không thể gần gũi được. Nàng bảo phải kiên trì, 16 năm sau mới được gần gũi. Một hôm, Chiêu Quân yêu cầu xây một cây cầu nổi. Cầu xây xong, rất nhiều cá và rồng hiện về. Có một con rồng vàng dài hơn một trượng hiện ra, nàng liền theo đó đi mất.
Sắc phong
Năm Vĩnh Hựu (triều Lê Ý Tông, 1735- 1740), Chiêu Quân được phong “Hiển linh tạ thuận thiên vi thái tỷ công chúa”, được thờ ở 12 đền trong “Bát đụn tang”. Thần tích còn ghi rõ bà sinh ngày 12 tháng 3, mất ngày 13 tháng 12. Vào hai ngày này, người dân thôn Diêm Tỉnh tổ chức Lễ hội tại đền Bà Chúa.
Vùng đất mỹ nhân một thuở
Theo lời cụ Phin thì đền Bà Chúa đã có từ xưa lắm rồi. Hàng năm hội đền được tổ chức rất trang nghiêm, thành kính. Anh Hoàng Ngọc Lễ, con trai cụ Phin còn cho biết: “Ngày trước, ở sân đền có một cây đa to lắm, phải đến hàng chục người ôm. Sau này, cây bị sét đánh chết mất. Ngày trước, con gái làng này đẹp nổi tiếng cả vùng. Bây giờ thì không được như xưa nữa”.
Đền Bà Chúa
Khi tôi cùng cụ Phin ra đền, nghi lễ dâng hương đang diễn ra. Điều đặc biệt ở lễ hội này là trừ đoàn đại biểu chính quyền và các cụ phụ lão là có nam giới, còn lại tất cả những người vào làm lễ dâng hương đều là nữ.
Tôi tranh thủ quan sát ngôi đền, tuy mới được tu tạo song các đường nét đều tinh xảo và cổ kính. Trên nóc đền là hình lưỡng long chầu nguyệt, hiên trước của đền là 3 chữ “Tạc quyết linh”- nghĩa là nơi linh thiêng. Trên hai cột chính trước cửa là đôi câu đối bằng chữ Hán: “Nam thổ giáng sinh phù đế mộng; Bắc phương tuyệt sắc hiển thần cơ”, theo cụ Phin nghĩa là: “Sinh ra tại nước Nam ứng với giấc mộng của nhà vua; Là bậc tuyệt sắc ở xứ Bắc hiển hiện do thần linh”.
Lễ dâng hương tại đền Bà Chúa
Trong đền, nổi bật trên ban thờ là bức đại tự có 4 chữ “Quốc sắc thiên hương” và mấy đôi câu đối nữa. Nội dung các câu đối này đều ca ngợi vẻ đẹp, tài năng và sự hiển linh của Bà Chúa. Trong đó có đôi câu đối chỉ rõ dân Diêm Tỉnh phải thường xuyên cúng lễ vào các dịp tuần tiết: “Diêm hải ba thương tình đại tiết; Tỉnh điền địa di tự thường nghi”.
Trong hậu cung, bên trong khám thờ che rèm kín là bức tượng của Bà Chúa. Không biết tượng được tạc bao giờ song vẫn toát lên vẻ đẹp tinh khôi, cao quý của một trang tuyệt sắc.
Hậu duệ của Bà Chúa
Đúng 9 giờ, màn tế “Nữ Quan”, nghi thức chính của lễ hội bắt đầu. Trong tiếng nhạc réo rắt, 17 cô gái trong trang phục truyền thống nhiều màu sắc sắp thành hai hàng, do một nữ quan dẫn đầu trang trọng tiến vào. Đắm mình trong tiếng nhạc, lời ca và không khí tưng bừng, tôi cứ bâng khuâng tự hỏi: “Phải chăng có thật một Vương Chiêu Quân ở xứ này?”.
Nguyễn Khắc Nguyệt

Chuyện hoang dâm kỷ lục của ông vua tại vị 27 ngày


Chuyện hoang dâm kỷ lục của ông vua tại vị 27 ngày


(Thâm cung bí sử) - Sách Hán Thư có chép: “Lưu Hạ chỉ giữ ngọc tỉ 27 ngày nhưng đã làm tổng cộng 1127 chuyện hoang dâm tày đình, bình quân mỗi ngày làm 4 việc bừa bãi”. Trong lịch sử hậu cung Trung Quốc, chưa có ông vua nào lại tại vị trong thời gian ngắn ngủi như vậy và càng không có vị Hoàng đế nào bì kịp với mức độ hoang dâm vô độ của vị Hoàng đế thứ 9 triều Tây Hán này…

1. Lưu Hạ là vị Hoàng đế thứ 9 của triều Tây Hán, triều đại kéo dài từ năm 206 trước Công Nguyên đến năm năm 25 Công Nguyên, đồng thời cũng là ông vua có thời gian tại vị ngắn ngủi nhất trong lịch sử Trung Quốc. Tổng cộng thời gian ngồi trên ngai vàng của Lưu Hạ chỉ vỏn vẹn có 27 ngày.

Lưu Hạ là cháu của Hán Vũ Đế Lưu Triệt, một ông vua được coi là có hùng tài đại lược, nổi tiếng là anh minh của triều đại Tây Hán.

Tuy nhiên, giống rồng thường sinh bọ chó, câu chuyện về sự hoang dâm vô độ của Lưu Hạ gần như là bức tranh đối nghịch và mỉa mai đối với bảng thành tích chói lọi của người ông hiền minh của mình.
Hoàng đế Lưu Hà

Năm lên 5 tuổi, Lưu Hạ tập ấm tước phong của cha mình, được phong làm Xương Ấp Vương. Lưu Hạ có thể nói là một điển hình của những cậu ấm con nhà giàu, sống trong nhung lụa, bạc vàng nhưng thất học. Hành động của Lưu Hạ vô cùng bừa bãi và quái đản, thậm chí là hoang đường.

Thường ngày, Lưu Hạ ở nơi đất phong của mình sống cuộc sống của xa xỉ, hoang dâm.

Bất kể là khi ông mình là Hán Vũ Đế băng hà hay Hán Chiêu Đế qua đời, Lưu Hạ không may may để ý tới, ngược lại, y vẫn như thường ngày, tổ chức săn bắn, yến tiệc, ca hát vui đùa, hưởng lạc.

Việc một kẻ vô học, chỉ thích ăn chơi, phóng đãng như Lưu Hạ có thể ngồi lên được ngai vàng của Hoàng đế là môt câu chuyện hài kịch đầy sự mỉa mai.

Năm Nguyên Bình thứ nhất, tức năm 74 trước Công nguyên, Hán Chiêu Đế, mới chỉ 21 tuổi đã mắc bạo bệnh qua đời. Năm đó, Hoàng hậu Thượng Quan mới chỉ 15 tuổi, vẫn chưa kịp sinh cho Chiêu Đế người con trai nào để nối dõi.

Những phi tần khác của Chiêu Đế cũng chưa có ai sinh được con trai hay con gái. Ai sẽ là người kế thừa ngai báu trở thành vấn đề đau đầu đối với triều đình và tông thất nhà Hán.

Lúc bấy giờ, trong số những người con trai của Hán Vũ Đế, chỉ còn 1 mình Quảng Lăng Vương Lưu Tư là còn sống. Các đại thần trong triều vì thế chủ trương lập Lưu Tư lên ngôi Hoàng đế.

Tuy nhiên, Đại tướng quân, Đại tư mã Hoắc Quang không đồng ý, nói rằng Lưu Đường là kẻ quá bừa bãi, phóng túng, không phải là 1 người có thể đảm đương tốt được vai trò của 1 hoàng đế.

Sử sách chép rằng, Lưu Tư là 1 kẻ có sức khỏe hơn người, tay không có thể bắt được gấu, giết được thú dữ nhưng Lưu Tư lại là kẻ ham chơi, chỉ thích săn bắn và gái đẹp.

Hoắc Quang là anh em cùng cha khác mẹ với Hoắc Khư Bệnh, một vị tướng nổi tiếng triều Đông Hán. Hoàng hậu Thượng Quan chính là cháu gái bên ngoại của Hoắc Quang.

Sau khi Hán Vũ Đế băng hà, Hoắc Quang được phong làm Phụ mệnh Đại thần, phò trợ Hán Chiêu Đế. Vì thế, ý kiến của Hoắc Quang rất có trọng lượng. Gần như thời bấy giờ, mọi người đều nhìn sắc mặt của Hoắc Quang mà làm việc.

Đương lúc triều đình còn chưa thống nhất về người kế thừa ngai báu thì có người viết thư gửi cho Hoắc Quang. Bức thư nói: “Lập hoàng đế thì quan trọng là phải xem người đó có thích hợp hay không, không nhất thiết phải quá quan tâm tới tài đức của người đó. Nếu như chỉ cần 1 người phù hợp thì lập người thế hệ sau nữa là được”.

Hoắc Quang đọc xong bức thưa, đưa cho Thừa tướng Dương Thưởng, xin ý kiến của các đại thần. Cuối cùng, sau khi bàn bạc, các quan đại thần đều thống nhất quyết định lập Xương Ấp Vương Lưu Hạ lên ngôi.

Hoắc Quan lấy danh nghĩa của Hoàng hậu Thượng Quan ra chiếu thư, lệnh cho quan Thiếu phủ Lạc Thành, Tổng chính Lưu Đức, Quang lộc đại phu Bính Cát đi đón Xương Ấp Vương Lưu Hạ, mời Lưu Hạ về Trường An chuẩn bị tức vị.

Lưu Hạ có thể nói là một kẻ ham chơi và phóng đãng bậc nhất thiên hạ. Khi Hán Vũ Đế chết, Lưu Hạ vẫn tổ chức tùng tùng đi săn, mở tiệc. Theo quy định lúc bấy giờ, đó là một tội chết.

Dưới trướng của Lưu Hạ có một quan Trung Úy tên là Vương Cát, nhân sự việc này hết lời can ngăn Lưu Hạ. Lưu Hạ nghe xong, tặng cho Vương Cát rượu thịt rồi hứa rằng nhất định sẽ sửa đổi.

Tuy nhiên, sau đó, mọi việc lại vẫn đâu vào đấy. Ngoài Vương Cát, Lưu Hạ còn 1 trung thần khác là Trung thư lệnh Cung Toại.

Cung Toại thấy Lưu Hạ suốt ngày ăn chơi, hết sức khuyên can Lưu Hạ. Lưu Hạ thấy Cung Toại suốt ngày lải nhải bên tai mình, quả là phiền phức, vì vậy, mỗi khi thấy Cung Toại đến, Lưu Hạ lại bịt tai chạy ra ngoài, vừa chạy vừa nói: “Trung thư lệnh thật là biết cách làm cho người ta phải xấu hổ”.

Sau đó, nhân một lần cao hứng, Lưu Hạ đồng ý cho Cung Toại tuyển chọn hơn 10 người học hành giỏi giang tới hầu Lưu Hạ đọc sách, giảng giải lễ nghĩa.

Tuy nhiên, chẳng được mấy ngày, Lưu Hạ lại lao vào những cuộc ăn chơi, yến ẩm, ra lệnh cho đuổi hết những người này về quê.

Khi 3 người Lạc Thành, Lưu Đức và Bính Cát không quản đường xa vạn dặm, lặn lội tìm tới Xương Ấp vào lúc nửa đêm, thì gặp đúng lúc Lưu Hạ đang trong cơn cuồng hoan.

Theo lý thường, được lên ngôi Hoàng đế là chuyện “đại hỷ”, người bình thường nhất định sẽ vội vội vàng vàng lên đường về kinh, chớp lấy cơ hội mà lên ngôi.

Tuy nhiên, Lưu Hạ thì không vội như vậy. Sáng ngày hôm sau, chần chừ yến ẩm mãi tới tận trưa, Lưu Hạ mới miễn cưỡng lên đường. Thế nhưng, ngay khi lên đường thì Lưu Hạ lại thúc hầu cận đi như ma đuổi.

Chỉ 3 canh giờ đã đi tới 135 dặm, không ít người hầu của Hạ mệt quá lăn ra chết ở dọc đường. Lưu Hạ lên đường về kinh nhưng không có sắp xếp lộ trình, cũng chẳng quan tâm tới thời gian, tự mình muốn làm thế nào thì làm như vậy, rất tùy hứng.

Những việc xảy ra trong cuộc hành trình của Lưu Hạ từ Xương Ấp về tới kinh đô Trường An cũng khiến người ta khó mà tin được.

Khi đoàn tháp tùng của Lưu Hạ đi tới vùng Tế Dương, nay là phía Đông Bắc của Lan Khảo Đông thuộc Hà Nam, Lưu Hạ nhớ tới đặc sản của vùng này, bèn phái người đi tìm con vịt mang về để mình làm đồ chơi.

Khi qua Hoằng Nông, nay là phía Bắc của Linh Bảo, Hà Nam, Lưu Hạ lại ra lệnh cho thuộc hạ đi tìm vài người đẹp vùng thôn dã, nhốt vào xe chở quần áo của mình để phục vụ mình.

Những hành động tai quái của Lưu Hạ khiến suốt dọc đường Lưu Hạ từ Xương Ấp về Trường An, người dân khắp nơi không ngớt oán hận, chửi rủa.

Khi Lưu Hạ đi tới Bá Thượng, nay là phía Đông thành Tây An, các quan phục vụ nghi lễ trong triều đình sửa soạn cho Lưu Hạ chiếc xe mà chỉ có Hoàng đế mới được sử dụng. Lưu Hạ thấy chiếc xe đẹp thì hoa chân mua tay thích chí lắm.
Cảnh ăn chơi của Lưu Hà. Ảnh minh họa

Tuy nhiên, để có thể lấy lòng các quan viên triều đình, Lưu Hạ cũng không thể không kiềm chế thói phóng đãng, bừa bãi của mình được.

Vì thế, khi xe của Lưu Hạ đi tới cung Vị Ương, Lưu Hạ cho dừng xe rồi bước xuống, lớn tiếng khóc lóc vô cùng thương tâm, tỏ lòng thương tiếc đối với ông vua trẻ vừa mất.

Màn biểu diễn khóc thương đã giúp Lưu Hạ vượt qua được cuộc “phỏng vấn” của các đại thần trong triều đình, đánh động được Hoắc Quang. Hoắc Quang dẫn Lưu Hạ tới gặp Hoàng hậu Thượng Quan, sau đó Hoàng hậu ra chiếu thư phong Hạ làm Thái tử.

Tháng 6 năm đó, Lưu Hạ với thân phận của một hoàng thái tử tiếp nhận ngọc tỉ, kế thừa ngai vàng, trở thành Hoàng đế.

Người vợ góa của Chiêu Vương, Thượng Quan Hoàng hậu năm đó mới 15 tuổi cũng trở thành thái hậu trẻ tuổi nhất trong lịch sử hậu cung Trung Quốc.

2. Lưu Hạ dù lên ngôi Hoàng đế song vốn phóng đãng đã quen, thành ra dù đã ở ngôi chí tôn vẫn không có chút nào dáng vẻ của một Hoàng đế. Mỗi ngày, từ sáng tới tối, Lưu Hạ không những chẳng bao giờ cùng với Hoắc Quang và các đại thần bàn luận việc triều chính mà ngược lại, đem toàn bộ những thuộc hạ cũ của mình ở Xương Ấp tới Trường An phục vụ chuyện ăn chơi cho mình.

Lúc bấy giờ, khi Hoàng đế chết, cả nước phải để tang, trong thời gian để tang, trong cung không được phép ăn thịt.

Tuy nhiên, Lưu Hạ lại sai thuộc hạ lén lút ra ngoài cung mua gà, lợn mang vào hậu cung mở tiệc linh đình. Khi nhàn rỗi không có trò gì chơi, Lưu Hạ lại lén tới hậu cung của Hán Chiêu Đế cưỡng đoạt các cung nữ làm trò vui.

Một ngày, Lưu Hạ nằm mơ thấy ở bậc thềm phía Tây hoàng cung có rất nhiều phân ruồi nhặng, phía trên bị che phủ bằng ngói lợp mái nhà. Lưu Hạ hỏi thuộc hạ thân cận của mình là Cung Toại, Cung Toại nói: “Những kẻ gian nịnh bên cạnh bệ hạ rất nhiều, giống như những cục phân ruồi nhặng trong giấc mơ.

Vì thế, bệ hạ cần phải chọn lựa những người con cháu các đại thần của tiên đế để làm người hầu cận thân tín của mình. Nếu như bệ hạ không nhẫn tâm bỏ những người cũ ở Xương Ấp, vẫn cứ tiếp tục tin dùng họ thì chắc chắn sẽ mang họa.

Hy vọng bệ hạ có thể đổi họa thành phúc, đuổi toàn bộ những người hầu cận cũ của mình ở Xương Ấp ra khỏi triều đình.

Cung Toại tôi tình nguyện là người đầu tiên ra đi”. Lưu Hạ nghe xong, không để lời của Cung Toại lọt vào tai, vẫn tiếp tục tin dùng những kẻ phục vụ mình ăn chơi từ khi còn ở Xương Ấp.

Vì vậy, chẳng mấy ngày sau khi lên ngôi, toàn bộ hoàng cung bị Lưu Hạ làm cho rối tung.

Sách Hán Thư có đoạn chép: “Lưu Hạ chỉ giữ ngọc tỉ 27 ngày nhưng đã làm tổng cộng 1127 chuyện hoang dâm tày đình, bình quân mỗi ngày làm 4 việc bừa bãi”.

Hoắc Quang không ngờ mình lại đưa một kẻ phóng đãng, ngu xuẩn như vậy lên ngôi Hoàng đế, vừa giận dữ vừa hối hận. Tuy nhiên, giờ đây Lưu Hạ đã là Hoàng đế, chuyện thay đổi không thể nóng vội.

Vì thế, Hoắc Quang ngấm ngầm cho gọi tâm phúc của mình là quan Đại tư nông Điền Đình Niên tới hỏi nên làm thế nào.

Điền Đình Niên nói: “Đại tướng quân cho rằng Lưu Hạ không thể làm Hoàng đế vì sao không bẩm báo Thái hậu phế truất y rồi tìm một người hiền minh hơn” Hoắc Quang đáp: “Ta cũng nghĩ tới điều này.

Tuy nhiên, chẳng biết trước đây từng có trường hợp nào như vậy chưa?” Điền Đình Niên nói: “Sao lại không có. Thời nhà Ân, có một Quốc tướng là Y Doãn đã từng phế bỏ hôn quân Thái Giáp, khiến quốc gia nhờ vậy mà trở nên giàu mạnh.

Người đời sau đều gọi Y Doãn là trung thần. Đại tướng quân nếu có thể làm như vậy, sẽ trở thành Y Doãn của triều Hán”. Hoắc Quang nghe Điền Đình Niên nói vậy liền đi tìm Xa kỵ tướng quân Trương An Thế để bàn bạc. Trương An Thế cũng đồng tình việc phế truất Lưu Hạ.

Sau khi đã thống nhất, Hoắc Quang phái Điền Đình Niên tới báo cho Thừa tướng Dương Thưởng. Dương Thương là một kẻ nhát gan, vừa nghe Hoắc Quang muốn phế bỏ Hoàng đế vừa mới lên ngôi, đã sợ có chuyện xảy ra, tay chân run lẩy bẩy.

Sau khi Điền Đình Niên ra về, vợ của Dương Thương mới nói với chồng rằng: “Đây là chuyện lớn của quốc gia.

Nếu như Đại tướng quân (chỉ Hoắc Quang) đã quyết định, lại còn phái quan Đại tư nông tới thông báo cho ông, ông mà không đồng ý, hợp lực cùng Đại tướng quân thì chẳng có kết quả tốt đâu?”

Sau đó chính vợ của Dương Thương phải ra mặt, tới gặp Điền Đình Niên nói rằng: “Mọi việc sẽ thực hiện theo sự sắp đặt của Đại tướng quân”.

3. Vì thế, vào ngày thứ 27 kể từ khi Lưu Hạ tức vị, Hoắc Quang cho tập hợp toàn bộ văn võ bá quan tới cung Vị Ương, cùng họ thảo luận chuyện phế bỏ Lưu Hạ.

Hoắc Quang nói: “Xương Ấp Vương ngu xuẩn, vô đạo, sợ rằng ngồi trên ngai vàng sẽ làm hại cho xã tắc. Mọi người nói nên làm thế nào?” Quần thần thấy Hoắc Quang không gọi Lưu Hạ là Hoàng đế mà lại gọi là Xương Ấp Vương, chẳng ai còn dám nói nửa lời.

Điền Đình Niên nhìn thấy thế, bèn đứng lên tuốt kiếm ra tay nói: “Tiên đế giao phó trách nhiệm phò trợ hoàng đế cho Đại tướng quân là vì sự trung hậu của Đại tướng quân có thể giúp cho thiên hạ nhà Lưu được ổn định.

Nêu như tông miếu nhà Hán bị hủy hoại trong tay của Xương Ấp Vương, Đại tướng quân sau khi chết đi liệu còn mặt mũi nào mà đi gặp tiên đế? Nay Đại tướng quân đã quyết định, quyết không dung tha cho kẻ nào chần chừ, nghi ngại, nếu ai không theo, ta sẽ dùng cây kiếm này chém đầu kẻ đó!”.

Hoắc Quang tiếp lời nói: “Tất cả trách nhiệm sẽ do ta một mình chịu”. Các đại thần nghe thấy vậy, vội quỳ xuống lạy, đồng thanh nói: “Chúng tôi nhất định sẽ nghe theo mệnh lệnh của Đại tướng quân”.

Vì thế, Hoắc Quang ra lệnh cho quan Thượng thư lệnh mang một bức tấu chương do ông ta đã soạn sẵn cho các đại thần ký tên vào.

Tiếp đó, Hoắc Quang dẫn các đại thần tới gặp Thượng Quan Thái hậu, kể lại những chuyện hoang dâm vô đạo của Lưu Hạ.

Thái hậu nghe xong ngồi xe tới cung Vị Ưởng, hạ lệnh các cửa hoàng cung không cho phép bất cứ ai là tướng thần của Xương Ấp Quốc của Lưu Hạ trước đây vào.

Nhận được lệnh của thái hậu, các thái giám đứng bên một cánh cửa, đợi khi Lưu Hạ bước vào điện Ôn Thất liền đóng chặt cửa, nhốt Lưu Hạ trong đó rồi ngăn những người thuộc hạ của Lưu Hạ ở Xương Ấp Quốc ở bên ngoài.

Lưu Hạ giận lắm đập cửa quát hỏi: “Các người làm gì thế?” Hoắc Quang đứng ở bên quỳ xuống nói: “Thái hậu có chỉ, không cho phép quần thần ở Xương Ấp Quốc được vào cung”.

Lưu Hạ nói: “Từ từ nói không được hay sao mà phải làm kinh động ta như vậy?” Hoắc Quang không nói, bước ra ngoài đuổi toàn bộ quần thần của Xương Ấp Quốc tới bên ngoài cửa Kim Mã. Trương Thế An dẫn theo quân lính đã đứng đợi sẵn ở đây, xông tới bắt sạch rồi đem nhốt vào địa lao.

Sau đó, Hoắc Quang lại sai 1 thái giám từng làm tới chức thị trung thời Hán Chiêu Đế tới hậu hạ và giám sát Lưu Hạ rồi căn dặn: “Nhất định phải canh giữ cẩn thận phòng khi Lưu Hạ bị hại hoặc tự sát. Như thế ta sẽ trở thành kẻ giết vua”.

Lúc bấy giờ, Lưu Hạ vẫn chưa biết chuyện gì, bèn hỏi những người hầu mới của mình: “Quần thần trước đây của ta phạm phải tội gì? Vì sao Đại tướng quân lại bắt họ nhốt lại như vậy?”

Mãi tới khi thái hậu hạ chỉ triệu kiến Lưu Hạ, hạ mới thực sự sợ hãi nói: “Ta phạm phải tội gì? Vì sao Thái hậu lại muốn gặp ta?” Tới lúc gặp Thái hậu, Lưu Hạ mới biết mình bị phế truất khỏi ngôi vị Hoàng đế.

Tới lúc này, Lưu Hạ vẫn chưa chịu thôi, nói: “Ta nghe nói, thiên tử chỉ cần có ở bên mình 7 vị đại thần trung thành và dám can gián thì cho dù có hoang dâm vô độ thế nào cũng sẽ không mất thiên hạ”.

Hoắc Quang nghe vậy nói: “Ngươi đã bị phế, còn dám tự xưng là thiên tử?” Nói xong ra lệnh cho người bắt Lưu Hạ, lột bỏ ngọc tỉ đeo bên mình, giao lại cho Thái hậu, rồi kéo Hạ rời khỏi điện đưa tới cung dành cho Xương Ấp Vương ở Trường An.

Lưu Hạ mới chỉ ngồi trên ngai vàng vỏn vẹn 27 ngày, đến niên hiệu cũng chưa kịp đặt đã bị phế truất. Từ Xương Ấp Quốc, Lưu Hạ mang tới Trường An hơn 200 người, ngoại trừ Vương Cát và Cung Toại còn lại toàn bộ đều bị xử chết.

Sau khi phế truất Lưu Hạ, Hoắc Quan tự mình đưa Lưu Hạ về Xương Ấp Quốc rồi nói: “Đại vương đoạn tuyệt với thiên hạ, thần cũng không còn cách nào khác. Thần có thể có lỗi với đại vương chứ không thể làm việc có lỗi với quốc gia.

Từ hôm nay trở đi, thần không thể phục vụ đại vương được nữa, mong đại vương giữ gìn!” Thế là chỉ sau 27 ngày giong trống mở cờ ra đi, lên ngôi Hoàng đế, Lưu Hạ lại bị đuổi về Xương Ấp Quốc. Tuy nhiên, khác với chiếc xe long trọng đón Lưu Hạ trước đây, lần này trở về, Lưu Hạ chỉ được ngồi trên 1 chiếc xe trâu.

Tới thời Tuyên Đế, Lưu Hạ được phong làm Hải Hôn Hầu, sau đó lại bị biếm làm thứ dân. Năm 59 trước Công nguyên, Lưu Hạ chết ở tuổi 30.

Sau khi phế bỏ Lưu Hạ, Hoắc Quang cho lập 1 người cháu khác của Hán Vũ Đế là Lưu Bệnh Dĩ làm hoàng đế, tức Hán Tuyên Đế.

Lưu Bệnh Dĩ là chắt gọi Hán Vũ Đế là cố nội. Vì thế, xét về vai vế Thượng Quan Thái hậu là bà của Tuyên Đế.

Do đó, Thượng Quan thái hậu, tuổi vẫn chỉ 15 một lần nữa được tôn phong làm thái Hoàng thái hậu, trở thành vị thái hoàng thái hậu trẻ nhất trong lịch sử Trung Quốc.

Trước khi tước vị, Hán Tuyên Đế sống một thời gian dài trong dân gian, vì vậy, biết được nỗi khổ của những người dân thường.

Vì thế, sau khi lên ngôi, Tuyên Đế rất cần kiệm, cai trị rất nhân từ, xã hội nhờ thế mà trở nên phồn thịnh, sử sách gọi đây là thời kỳ Trung Hưng của triều Tây Hán. Hán Tuyên Đế vì thế cũng được các sử gia rất ca ngợi.

Sự phát triển của lịch sử bao giờ cũng là kết quả của rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Người ta cho rằng, việc Lưu Hạ nhanh chóng bị phế truất, ngoại trừ việc y hoang dâm vô độ, còn có nguyên nhân từ cuộc đấu tranh chính trị.

Lưu Hạ được đưa lên làm hoàng đế hoàn toàn là dựa vào các đại thần do Hoắc Quang đứng đầu.

Việc đưa Lưu Hạ lên ngôi, đương nhiên làm nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cho họ.

Tuy nhiên, Lưu Hạ sau khi lên ngôi lại không giúp gì cho họ, ngược lại đem toàn bộ thuộc hạ của mình từ Xương Ấp Quốc tới Trường An tranh đoạt quyền lực với tập đoàn của Hoắc Quang.

Vì vậy, với Lưu Hạ, Hoắc Quang chỉ còn một lựa chọn duy nhất là nhân lúc y chưa kịp cài cắm những thân tín của mình vào bộ máy quyền lực ở Trường An thì phế truất Lưu Hạ.

Việc hạ lệnh phế truất Lưu Hạ bề ngoài là do Thượng Quan Thái hậu làm, tuy nhiên, Thượng Quan Thái hậu mới chỉ là cô gái 15 tuổi, lại là cháu gái của Hoắc Quang, nên quyền lực thực chất nằm trong tay Hoắc Quang.

Việc phế lập Hoàng đế, đối với Hoắc Quang thực chất là nhằm củng cố lại địa vị và quyền lực của tập đoàn mình.

Đất thánh phong thủy của Hán Cao Tổ Lưu Bang


Đất thánh phong thủy của Hán Cao Tổ Lưu Bang


Long mạch của họ Lưu bắt đầu từ huyện Bái kéo dài tới Trường An, xuyên qua Trung Long, một trong ba long mạch lớn của Trung Quốc, khiến triều đại nhà Hán kéo dài sự thống trị của mình tới hơn 400 năm.

Đất nuôi rồng
Các nhà phong thủy cho rằng, các long mạch ở những vùng khác nhau cũng giống như con người, không phải tự nhiên sinh ra mà cũng có cha mẹ tổ tiên, cũng hình thành hẳn một gia tộc.

Thông thường, ngọn núi ở phía sau của huyệt mộ được gọi là “núi phụ mẫu”, lui về phía sau nữa thì được gọi là “núi thiếu tổ”, rồi “thái tổ”…

Ở nơi bắt nguồn của dãy núi, người ta gọi là tổ tiên của long mạch. Vì vậy, tìm hiểu long mạch đồng thời phải truy nguyên tổ tiên của long mạch ấy, trong phong thủy người ta gọi đây là “nhận tông”.

Ở Trung Quốc, theo các chuyên gia phong thủy thì Côn Luân chính là tổ tông của tất cả các long mạch.

Bắt nguồn từ Côn Luân sinh ra ba nhánh long mạch chính: Long mạch từ Trường Giang xuống phía Nam gọi là Nam Long, nằm giữa Trường Giang và Hoàng Hà gọi là Trung Long, và từ Hoàng Hà ngược lên phía Bắc gọi là Bắc Long.

Các long mạch khác trên khắp Trung Quốc thực chất chỉ là phân nhánh của ba long mạch lớn nói trên.

Về tổng thể, phương hướng của ba long mạch lớn này là từ Tây sang Đông và chạy sát ra tới biển.

Các long mạch khác liên tục được sinh ra trong quá trình ba long mạch lớn này chạy dài từ Tây sang Đông, có thể là Bắc, có thể là Nam.

Các nhánh nhỏ này tạo ra rất nhiều huyệt phú quý, tạo nên một hệ thống long mạch trên khắp lãnh thổ Trung Quốc.

Chân dung Hán Cao Tổ Lưu Bang.

Theo cách suy luận nói trên thì long mạch sẽ có rất nhiều phân nhánh. Nhưng nếu như vậy thì nhánh nào có thể sinh ra và dưỡng thành một “chân long” lại là chuyện khác.

Mảnh đất sinh ra “chân long” phải là nơi có khí thế. Khí thế này thường đến từ những vùng nước trên núi. Bởi lẽ rồng muốn sống và di chuyển thì tất phải có nước dẫn đường.

Vì vậy, có thể nói rằng, thế nước chính là dấu hiệu nhận biết long mạch. Trường Giang và Hoàng Hà có thể nói chính là hai dòng sông đã bồi đắp nên nền văn minh Trung Hoa.

Do vậy, muốn tìm long mạch, ắt phải bắt nguồn từ hai dòng sông này. Huyện Bái nằm trên một long huyệt của long mạch nằm giữa hai dòng sông này và đây chính là lý do vùng đất này trở thành nơi phát tích của Hán Cao Tổ Lưu Bang.

Từ khi còn nhỏ, tính tình Lưu Bang đã rất hào sảng, không thích đọc sách tuy nhiên lại rất nhân từ, đại lượng, không câu nệ tiểu tiết, vì vậy cha Lưu Bang thường mắng ông là kẻ “vô lại” (kẻ không thể nhờ cậy được gì).

Sau khi lớn lên, nhờ dùng tiền chạy chọt, Lưu Bang được làm chức Đình trưởng Tứ Thủy Đình (tương đương chức phó công an xã hiện nay).

Mặc dù chức quan rất nhỏ, nhưng Lưu Bang lại nổi tiếng là kẻ trượng nghĩa, vì thế viên Chủ lại huyện Bái là Tiêu Hà và Giám ngục Tào Tham coi Lưu Bang như bạn.

Sau này, một người rất giàu có ở huyện Đan Phụ tên là Lã Công Kiều chuyển nhà sang huyện Bái đã mở một bữa tiệc mời quan lại trong huyện tới dự.

Tiêu Hà, Tào Tham và nhiều quan lại đều được mời. Lưu Bang tuy là quan nhỏ nhưng cũng muốn tham dự, song chức Đình trưởng lại chẳng có bao nhiêu tiền, làm sao dám bước vào dự tiệc.

Thế nhưng không có cách nào khác, Lưu Bang đành làm mặt dày xông vào bên trong.

Mọi chuyện giống như được ông trời sắp đặt sẵn, Lã Công vừa nhìn Lưu Bang đã thấy ông tướng mạo bất phàm, nói chuyện một lúc thì lại càng thích thú người Đình trưởng họ Lưu hơn.

Sau khi tiệc tan, Lã Công giữ Lưu Bang lại nói Lưu Bang tướng mạo hơn người, nhất định tiền đồ sẽ rộng mở.

Vì vậy, bất chấp sự phản đối của vợ, Lã Công kiên quyết đem con gái của mình gả cho Lưu Bang làm vợ.

Lưu Bang thân chỉ làm một Đình trưởng nhỏ bé, nay lại được một phú ông giàu có mà cả hai huyện phải nể trọng chủ động gả con gái cho, đương nhiên chẳng có lý do gì từ chối. Con gái của Lã Công chính là Lã Hoàng hậu sau này.

Lúc bấy giờ đang là thời kỳ thống trị của Tần Thủy Hoàng. Sau khi tiêu diệt 6 nước, thống nhất Trung Quốc, Tần Thủy Hoàng bắt đầu lối sống xa hoa, tìm cách hưởng thụ.

Để sau khi chết đi vẫn có thể thụ hưởng cuộc sống sung sướng như trên trần gian, Tần Thủy Hoàng cho bắt hơn 700 nghìn dân phu tới Li Sơn để xây lăng mộ cho mình.


Huyện Bái cũng nhận được công văn, đòi bắt hơn 100 nhân phạm và nông dân lên đường tới xây lăng mộ.

Li Sơn chỉ có đi mà không có về, vì vậy chẳng ai muốn mình bị bắt đi. Theo quy định của nhà Tần khi đó, những người không tới báo danh đúng ngày đều bị xử tội chết, những người bỏ trốn trên đường đi cũng bị chém đầu.

Ngay cả những người áp giải nông phu và tội phạm tới Li Sơn cũng lành ít dữ nhiều.

Giữ chức Đình trưởng Tứ Thủy, Lưu Bang được giao nhiệm vụ áp tải phu dịch tới Li Sơn. Trên đường người bỏ trốn không ít.

Lưu Bang nghĩ rằng, nếu người cứ bỏ trốn như vậy, trước sau mình cũng chết, chi bằng đem phóng thích toàn bộ phu dịch.

Trong số những người được phóng thích, có người bỏ trốn giữ lấy mạng sống nhưng cũng không ít người quyết định đi theo Lưu Bang.

Nhờ vậy, Lưu Bang tập hợp được một lực lượng nhỏ rồi chạy về phía Nam thành lập căn cứ bí mật ở khu vực núi Mang Sơn và Đãng Sơn.

Ít lâu sau, Lưu Bang đã có trong tay một đội ngũ cả trăm người chống lại triều Tần ở khu vực này.

Năm 210 trước Công Nguyên, Tần Thủy Hoàng băng hà, con trai là Hồ Hợi tức vị trở thành Tần Nhị Thế. Sự tàn bạo và ăn chơi của Tần Nhị Thế không hề thua kém người cha bạo chúa của mình.

Vì thế, tháng 7 năm Tần Nhị Thế thứ nhất, tức năm 209 trước Công Nguyên, Trần Thắng dựng cờ khởi nghĩa ở huyện Kỳ, mở đầu cho phong trào khởi nghĩa nông dân cuối thời Tần.

Sau khi chiếm được đất Trần (nay là vùng Hoài Dương, Hà Nam, Trung Quốc), Trần Thắng thành lập chính quyền Trương Sở, công khai đối lập với nhà Tần.

Quan huyện lệnh huyện Bái muốn bảo toàn chính mình, cũng muốn hưởng ứng khởi nghĩa để tiếp tục nắm chính quyền.

Đồng thời theo kiến nghị của Tiêu Hà và Tào Tham, cho gọi tất cả những người huyện Bái đang lưu vong ở bên ngoài về. Như vậy, một là có thể tăng cường lực lượng, hai là có thể trừ được hậu họa.

Ở Trung Quốc, theo các chuyên gia phong thủy thì Côn Luân chính là tổ tông của tất cả các long mạch.

Vì thế, quan huyện phái em rể của Lã Trĩ là Phàn Khoái đi Đãng Sơn để đón Lưu Bang.

Tuy nhiên, khi Lưu Bang dẫn theo đội quân vài trăm người đi tới gần huyện Bái thì huyện lệnh huyện Bái lại hối hận, sợ rằng Lưu Bang một khi vào được thành sẽ không dễ khống chế, nên ra lệnh đóng cửa thành, lại muốn giết cả Tiêu, Tào vì sợ những người này làm nội ứng.

Tiêu, Tào trốn theo Lưu Bang, bàn kế cho Lưu Bang bắn thư vào thành thuyết phục các bậc trưởng lão để họ cho con em đuổi quan huyện để đón mình.

Kế thành công, Lưu Bang được tôn làm Bái Công, lãnh đạo con em huyện Bái tham gia khởi nghĩa. Huyện Bái trở thành đại bản doanh đầu tiên của Lưu Bang.

Sáng lập nghiệp đế
Sau khi cuộc chiến tranh giữa Hán và Sở kết thúc, Lưu Bang lên ngôi Hoàng đế ở Định Thủy, vùng đất phía Nam sông Tị Thủy và dự định định đô ở Lạc Dương.

Lúc đó, Trương Lương, một mưu thần rất thông thạo phong thủy và một thuật sĩ tên là Lâu Kính khuyên Lưu Bang dời đô về Trường An.

Trương và Lâu cho rằng Trường An mới là nơi quốc đô, có thể thống trị lâu dài, là mảnh đất cực tốt về phong thủy.

Theo họ Trương và họ Lâu thì Trường An nằm ở trung tâm của vùng bình nguyên Quan Trung, phía Nam thì gối lên ngọn Tần Lĩnh, phía Bắc thì giáp sông Vị Hà, có núi sông bao bọc, là nơi phong thủy rất tốt.

Sau khi Lưu Bang khảo sát Trường An một cách cẩn thận, phát hiện đây là nơi có khí thế bất phàm, vì thế quyết định nghe theo lời của Trương Lương và Lâu Kính, dời đô về Trường An.

Bắt đầu từ đây, Trường An trở thành kinh đô kéo dài hơn 200 năm của nhà Tây Hán.


Thành Trường An do mưu thần Tiêu Hà của Lưu Bang tổ chức xây dựng. Ở phía Nam là tòa chính cung, nơi ở của Hoàng đế gọi là Vị Ương Cung. Hai chữ “vị ương” bắt nguồn từ Kinh Thi, có nghĩa là không có điểm kết thúc.

Vị Ương Cung có diện tích khoảng 5.000 mét vuông, được xây dựng trên nền móng của Chương Đài do Tần Thủy Hoàng xây dựng, khí thế rất hùng vĩ với tổng cộng hơn 40 tòa lầu các khác nhau.

Lần đầu tiên Lưu Bang nhìn thấy Vị Ương Cung, Lưu Bang đã rất tức giận nói với Tiêu Hà: “Thiên hạ phân tranh còn chưa dứt, trăm họ vừa thoát khỏi cảnh chiến loạn chưa được bao lâu, vì sao ông lại xây dựng một tòa cung điện xa hoa thế này?”

Tiêu Hà nói với Lưu Bang rằng, đây chính là sự uy nghi cần thiết của một Hoàng đế: “Thiên tử lấy bốn bể là nhà, do vậy, cung điện không nguy nga tráng lệ thì không uy nghi.

Chỉ có một tòa cung điện như thế này mới thể hiện được khí thế đế vương của Hoàng thượng”. Lưu Bang nghe Tiêu Hà giải thích như vậy mới vui vẻ trở lại.

Sau khi lên ngôi Hoàng đế và định đô ở Trường An, Lưu Bang vẫn chưa thể gối cao ngủ yên. Ông vua sáng lập triều Hán vẫn phải xử lý nhiều chuyện nữa mới có thể khiến quốc gia ổn định trở lại.

Lưu Bang chiến thắng được Hạng Vũ không chỉ dựa vào lực lượng của bản thân mà có sự giúp sức của nhiều lực lượng khác. Trong đó, đa số được lãnh đạo và biên chế độc lập.

Ban đầu tất cả đều do một mình Lưu Bang thống lĩnh, tuy nhiên, sau khi lập nước, lực lượng của các đội quân này ngày một mạnh lên, nếu như họ hợp tác lại với nhau chống lại Lưu Bang thì đội quân triều đình do Lưu Bang thống lĩnh không cách nào chống đỡ được.

Trong cuộc chiến với Hạng Vũ, để bảo đảm thắng lợi, Lưu Bang đã phong đất phong vương cho họ, vì vậy, sau khi thống nhất quốc gia, lực lượng này vẫn chiếm giữ những khu vực lớn.

Điều này trở thành một sự uy hiếp đối với triều đình nhà Hán của Lưu Bang.

Để loại bỏ sự uy hiếp này, Lưu Bang đã sử dụng nhiều cách khác nhau để lần lượt tiêu diệt từng người một, từ Anh Bố, Bành Việt cho tới Hàn Tín… cuối cùng, tập trung toàn bộ quyền lực vào tay mình. Sau đó, một lần trở về huyện Bái, Lưu Bang đặt tiệc mời mọi người tới dự.

Trong bữa tiệc vinh quy bái tổ, Lưu Bang đã cao giọng hát rằng: “Gió nổi rồi, mây bay cao, Uy danh khắp nơi rồi, trở về quê cũ”.

Trong bài hát này, Lưu Bang nói chuyện rồng sau khi bay cao về quê cũ. Nhưng thực chất, long mạch của họ Lưu bắt đầu từ huyện Bái kéo dài tới Trường An, xuyên qua Trung Long, một trong ba long mạch lớn của Trung Quốc, khiến triều đại nhà Hán kéo dài sự thống trị của mình tới hơn 400 năm.
Theo PNT

Chủ Nhật, 8 tháng 7, 2012

Trung Quốc khai quật mộ cổ thời Tây Hán


Trung Quốc khai quật mộ cổ thời Tây Hán




(GDVN) - Ngày 18/4 Cục Văn vật khảo cổ Thiểm Tây công bố bộ ảnh cổ vật quý vừa khai quật từ ngôi mộ cổ thời Tây Hán tọa lạc tại phía bắc thành phố Tây An, thủ phủ tỉnh này. Đây là ngôi mộ cổ có quy mô khá lớn và hiếm gặp thời Tây Hán, chủ nhân của nó là ai vẫn còn là câu hỏi bí mật mà các nhà khảo cổ học đang nỗ lực tìm kiếm lời giải. Trong đợt khai quật này các nhà khảo cổ đã phát hiện 6 đỉnh gốm rất đẹp và còn nguyên vẹn, đại bộ phận đồ tùy táng đều được làm từ chất liệu đồng hoặc gốm khá tinh xảo.

Đỉnh và thạp cổ chất liệu gốm da lươn tinh xảo

Đồ cổ chất liệu đồng xanh còn nguyên vẹn
Đỉnh gốm men ngọc
Bát gốm
Toàn cảnh khu mộ cổ được khai quật
Hầm mộ chính
Đồ tùy táng trong hầm mộ
Chữ viết lưu lại trên vách mộ

Chủ Nhật, 1 tháng 7, 2012

Chính sách của Trung Quốc đối với Bắc Triều Tiên


Chính sách của Trung Quốc đối với Bắc Triều Tiên




Gã đàn ông dâm đãng vẫn đang chờ đợi, cho dù buồn thay, ngay cả khi không thấy bóng dáng của người tình hờ. 

Đó là hình ảnh của nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên, Kim Chân In, người đang phải ngóng chờ sự cứu trợ, mà không phải lúc nào cũng sẵn lòng từ các nhà lãnh đạo Trung Quốc. Tuy nhiên, ngoài việc đưa ra một số chi tiết chưa được biết về ông Kim hoặc quan hệ giữa ông ta với Trung Quốc thì các tài liệu ngoại giao của Mỹ được Wikileaks tiết lộ tuần qua cũng chỉ làm tăng thêm các dự đoán và nhận định xưa cũ khi phân tích về quan hệ Trung Quốc - Bắc Triều Tiên.

Các tài liệu được tiết lộ cho thấy nhận định bất ngờ, giật gân rằng: Trung Quốc chấp nhận việc tái thống nhất Triều Tiên, dưới sự kiểm soát của Hàn Quốc. Trung Quốc đồng ý với ý tưởng Triều Tiên thống nhất. Tuy nhiên, trong thực tế Trung Quốc luôn sẵn sàng hậu thuẫn cho hầu hết các hành động ngổ ngáo của người đồng minh Bắc Triều tiên, để tránh cho nước này sụp đổ hay bị sát nhập bởi đồng minh của Mỹ là Hàn Quốc. Thậm chí, trong năm nay, Trung Quốc đã từ chối không lên án hành động đánh đắm tàu tuần tra Cheonan của Hàn Quốc vào tháng Ba, tiết lộ về cơ sở làm giàu uranium bí mật và vụ pháo kích vào đảo của Hàn Quốc tháng trước.

Thực tế các đề tài đồn đoán về việc Trung Quốc thay đổi quan điểm đối với việc Hàn Quốc nắm quyền kiểm soát Triều Tiên sai lệch với phân tích tìm thấy ở nguồn điện tín vào tháng Giêng năm nay của ông Chun Yung-woo, người đã trở thành cố vấn an ninh quốc gia của Hàn Quốc. Ông Chun chỉ được dẫn đã nói rằng hai quan chức cấp cao của Trung Quốc đã sẵn sàng đối diện với một thực tế mới là Bắc Triều Tiên không còn nhiều giá trị đối với Trung Quốc như là một nước đệm. Theo ông Chun thì quan điểm này đã hình thành kể từ khi Bắc Triều Tiên xấc xược thử vũ khí hạt nhân ở gần biên giới Trung Quốc vào năm 2006.

Một số quan chức Trung Quốc khác cũng đã tỏ ra giận dữ và xấu hổ đối với người đồng minh Bắc Triều Tiên. Bản thân vụ thử vũ khí cũng đã làm cho Trung Quốc có lý do để lo ngại cho việc họ giúp đỡ Triều Tiên sản xuất vũ khí hạt nhân. Hồi tháng Tư năm nay, một Thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc đã ví nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên như là "một đứa trẻ khó bảo". Hành động ngỗ ngược của ông ta có thể dẫn đến chiến tranh. Tại Hàn Quốc, Tổng thống Le Myung - bak cũng bị chỉ trích vì đã không đáp trả mạnh mẽ hơn trong vụ pháo kích tháng trước. 

Tiếp đến là sự kết tục. Vào những năm 80, người ta nói rằng Đặng Tiểu Bình đã không bằng lòng khi Kim Nhật Thành quyết định chọn người con non nớt, ham thích khoái lạc làm người kế tục mình nắm quyền ở Bắc Triều Tiên. Kim Chân In chọn người con khoảng hơn 20 tuổi của mình làm người kế vị thậm chí còn khó hiểu hơn nữa. Một vài blogger người Trung Quốc đã chỉ trích việc lãng phí tiền bạc viện trợ cho một chế độ gia đình trị đang sụp đổ.

Tuy nhiên, vào tháng Tám, Chủ tịch Hồ Cẩm đào đã bất ngờ thông qua kế hoạch xuất hiện ở một buổi lễ kỹ niệm ở Thượng Hải để gặp mặt ông Kim một cách bất ngờ ở Đông Bắc Trung Quốc nhằm chúc mừng việc chọn người con trẻ kế vị. Trong vụ pháo kích vừa qua, có thể hiểu là Trung Quốc đã ủng hộ Bắc Triều Tiên. Nước này đã kêu gọi cho một cuộc gặp khẩn cấp để chuẩn bị cho việc nối lại đàm phán sáu bên, bao gồm Mỹ, Nhật Bản và Nga cùng với Trung Quốc và hai miền Triều Tiên. Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc đã phản đối vì cho rằng nối lại đàm phán trước khi Bắc Triều Tiên có sự nhân nhượng sẽ là một dấu hiệu cỗ vũ cho thái độ hiếu chiến của nước này.

Có ba lý do có thể giải thích cho sự dung túng quá mức của Trung Quốc trước những hành động hiếu chiến của Bắc Triều Tiên. Một là, có thể Trung Quốc tỏ ra thông cảm với việc Bắc Triều Tiên cho rằng mình là bên chịu thiệt thòi. Một cuộc điều tra quốc tế cho rằng Bắc Triều Tiên là thủ phạm của vụ đánh đắm tàu Cheonan đã không xét hết các khả năng về âm mưu đánh đắm tàu này. Triều Tiên luôn cảnh báo về một sự trả đũa đích đáng nếu như cuộc tập trận ở vùng nước tranh chấp, gần bờ biển nước này bao gồm cả việc bắn đạn thật, như là cuộc tập trận hồi tháng mười một. (Trong cuộc tập trận chung ở cùng khu vực vào tuần trước, Mỹ và Hàn Quốc đã hoãn việc diễn tập bắn đạn pháo thật). Thậm chí, cũng khó mà lập luận rằng hành động của Bắc Triều Tiên là hoàn toàn quá mức, không hợp lý và không thể chấp nhận như một học giả Trung Quốc đã từng nói.

Lý do thứ hai đó là quan hệ giữa Trung Quốc và Bắc Triều Tiên có thể được ví gần gủi như là môi với răng và điều này đã cấp cho nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên một giấy phép đặc biệt. Trong chuyến thăm Bình Nhưỡng vào năm ngoái, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã đến thăm mộ Mao Ngạn Anh, con trai của Mao Trạch Đông, một chí nguyện quân Trung Quốc hy sinh trong chiến tranh Triều Tiên năm 1950 - 1953.

Lý do này cũng có vẻ không thuyết phục, các nhà lãnh đạo Trung Quốc không phải là những người ủy mị như vậy và nếu như họ liên minh với Bắc Triều Tiên thì đó phải là vì họ tin rằng liên minh này phục vụ cho lợi ích của Trung Quốc. Hãy bỏ qua giả thiết rằng những gì ông Chun nói là không xác thực, chỉ là nói những gì mà người nghe muốn nghe, hoặc có lẽ là quá sớm. Ông Chun đã cho rằng đã có một sự thay đổi lớn trong quan điểm của Trung Quốc và nói rằng đoàn đàm phán của Trung Quốc ở vòng đàm phán sáu bên về vấn đề Triều Tiên không phải là một trong những người có quan điểm tiến bộ như ông ta hy vọng, mà vẫn là Vũ Đại Vĩ, một người đàn ông già, được gọi là "quan chức kém năng lực nhất Trung Quốc" và một nhà báo Mỹ đã gọi ông ta như là một "một con người ngạo mạn, một cựu Hồng vệ binh tôn thờ chủ nghĩa Mác". Những cựu Hồng vệ binh ở Trung Quốc dường như vẫn đang là những người quyết định chính sách của nước này đối với Triều Tiên.

Một tài liệu điện tín khác được tiết lộ đã cho biết về cuộc gặp vào năm ngoái giữa một quan chức cấp cao cấp Mỹ với Bộ trưởng cố vấn Singapore Lý Quang Diệu. Tài liệu này tóm tắt đánh giá của ông Lý Quang Diệu là mặc dù không muốn Bắc Triều Tiên có vũ khí hạt nhân nhưng Trung Quốc thà chấp nhận một Triều Tiên có vũ khí hạt nhân, thậm chí cả hệ lụy của nó là Nhật Bản cũng sẽ hạt nhân hóa để thay cho việc quân đội Mỹ hiện diện ở biên giới của Trung Quốc.

Bài gốc: http://www.economist.com/node/176334...TOKEN=60424258

Bài này lấy từ The Economist, tiếng Anh thi lại nên dịch không hay và có thể sai. Bạn nào giỏi tiếng anh dịch lại hộ và đưa lên đây cho các bạn tham khảo.